eng
competition

Text Practice Mode

Lịch sử máy in

created Today, 06:07 by Kliyy


0


Rating

1567 words
7 completed
00:00
Kể từ khi chữ viết ra đời cho đến hàng nghìn năm về sau, việc sao chép tài liệu vẫn chỉ được thực hiện bằng tay. Điều này đòi hỏi rất nhiều công sức thời gian để hoàn thành, vậy giá thành cũng rất cao, chỉ phù hợp với các tầng lớp thượng lưu. Điều này tạo ra rào cản lớn cho việc phổ cập kiến thức, thông tin hay lưu trữ những tưởng, phát kiến mới... Sự khát khao tri thức lưu truyền qua tài liệu, sách vở đã thôi thúc con người phát minh ra phương thức sao chép mới - in ấn!
Phương pháp in ấn đầu tiên ra đời tại Trung Quốc, nhưng người được coi "ông tổ nghề in" với phát minh đại làm thay đổi công nghệ in ấn lại một thợ kim hoàn, nhà phát minh người Đức - Johannes Gutenberg (1400 - 1468).
 
Phương pháp in ấn đầu tiên - giấy than xuất hiện tại Trung Quốc vào khoảng năm 175 sau Công Nguyên dưới triều Hán. Với mục đích lưu lại những sách vở Khổng giáo, họ đã sử dụng giấy than đè lên trên tài liệu gốc, chà xát nhiều lần bằng ván gỗ cho ra bản sao với nền đen - chữ trắng.
Sau đó, vào khoảng thế kỉ thứ 8, không phải tín đồ Khổng giáo những người theo Đạo Phật đã tạo nên một bước đột phá lớn trong việc in ấn - phương pháp in khuôn. Cụ thể họ sẽ khắc nổi chữ, hình ảnh lên một tấm ván gỗ, bôi mực lên trên dập vào giấy, vải,... Phương pháp in khuôn sau này rất phổ biến các nước Đông Á, đặc biệt Hàn Quốc, Nhật Bản.
Tuy tốt hơn dùng giấy than nhưng phương thức in khuôn còn tồn tại những nhược điểm lớn như để hoàn thành một bản in tốn rất nhiều thời gian, sau khi in xong khuôn in không thể tái sử dụng. Đồng thời nếu người thợ khắc tình phạm lỗi nhỏ trên bản in thì anh ta sẽ phải làm lại từ đầu.
Để giải quyết vấn đề này, một thợ in đời nhà Tống tên Tất Thăng (Bi Cheng) đã sáng tạo ra phương pháp in rời văn tự vào đầu thế kỷ 11. Cụ thể cách làm bản in như sau: Các văn tự sẽ được khắc nổi trên một mảnh đất sét, mảnh đất sét này được đem đi nung rồi gắn vào một tấm sắt mỏng. Sau khi hoàn thành, bản in được cắt rời từng tự lưu trữ cho việc in ấn.
Đây một ý tưởng rất hay nhưng khi áp dụng vào thực tiễn gặp rất nhiều khó khăn bởi văn tự của Trung Quốc thời đó lên đến hàng nghìn tự riêng biệt. Tuy nhiên, phương pháp in này vẫn nhanh chóng được phổ biến khắp Châu Á theo chân các nhà buôn qua con đường lụa sang tới Châu Âu.
 
Vào khoảng những năm 1439, Johannes Gutenberg sau quá trình nghiên cứu lâu dài đã tìm được kỹ xảo in mới. Ban đầu những chữ in được làm bằng gỗ cứng, chia nhỏ các chữ cái viết thường, viết hoa, dấu chấm câu… thành các phần riêng lẻ. Nhưng loại chữ in bằng gỗ không tạo được những nét chữ đẹp, sắc riêng biệt nên ông đổi qua thử nghiệm đúc chữ cái, hiệu thành những khối kim loại bằng chỉ, antimon thiếc, đồng thời tạo ra loại mực in của riêng mình thành phần gồm dầu hạt lanh bồ hóng. Đây một sự cải tiến đáng kể so với những dòng mực in được sử dụng trước đó.
Nhưng điều tạo nên sự khác biệt giữa Gutenberg những người tiền nhiệm Châu Á ông đã sáng chế thành công một cỗ máy thể giới hóa việc chuyển mực in từ chữ kim loại sang giấy. Nhờ phỏng chế trục vít (screw) sử dụng trong máy ép giấy, máy ép rượu máy ép vải lanh, ông đã tạo ra một máy in hoàn toàn phù hợp cho việc in ấn.
Chiếc máy in Gutenberg được làm bằng gỗ dựa trên chế mặt phẳng ép mặt phẳng, vận hành bằng sức người, công suất khoảng 100 tờ/giờ. Nhờ chiếc máy này, Gutenberg trở thành người tiên phong trong việc in sách Kinh thánh bằng tiếng Latin, nét chữ rất đẹp, sắc nét. Lần đầu tiên trong lịch sử, sách đã được sản xuất hàng loại với chi phí chỉ bằng một phần nhỏ so với các phương pháp in trước đó, nhờ vậy chúng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân.
Trong khoảng 40 năm sau khi ra đời, phương pháp in chữ rời máy in của Gutenberg nhanh chóng lan rộng ra khắp Châu Âu, khoảng 20 triệu cuốn sách được xuất bản, tạo ra một cuộc cách mạng truyền thông lớn vào thời điểm đó, trở thành chất xúc tác chính cho cuộc cách mạng khoa học sau này.
Phương pháp in của Gutenberg được ứng dụng trong 3 thế kỷ sau đó, cho đến năm 1811, chiếc máy in chạy bằng hơi nước đầu tiên ra đời dưới bàn tay của kiến trúc người Đức Friedrich Koenig. Thiết bị này khả năng in khoảng 1100 trang/giờ, gấp 4 lần năng suất in theo phương pháp cũ. Sau khi được bán cho tạp chí Times, chiếc máy in này được cải tiến để thể in cả 2 mặt giấy.
Một cột mốc đáng nhớ nhất của lịch sử in ấn trước thế kỷ 19 phải kể đến sự ra đời của chiếc máy in Lino năm 1884. Chiếc máy in này cho phép nhập tự bằng cách vận hành học (sử dụng máy đánh chữ) công suất thể lên tới 1 triệu bản in/ ngày. Điều này giúp máy in Lino trở thành phương tiện truyền thông chính vào những năm cuối thế kỉ 20.
 
Năm 1938, Chester Carlson - một kỹ người Mỹ đã phát triển ý tưởng sử dụng công nghệ in khô tạo ra chiếc máy photocopy đầu tiên trên thế giới.
Đến năm 1969, máy in laser ra đời bởi một nhà nghiên cứu thuộc tập đoàn Xerox tên Gary Starkweather. Máy in này hoạt động dựa trên các chùm tia laser quét qua văn bản gốc giúp rút ngắn thời gian in tăng công suất cho thiết bị. thể in khoảng 200 bản photo trong chưa đầy 1 phút với bản in đen - trắng, còn in màu thì khoảng 100 bản/ phút.
Ngay sau đó vào năm 1970, tập đoàn công nghệ điện tử chính thức cho ra mắt máy in ma trận điểm (hay còn gọi máy in kim) - hoạt động giống như máy đánh chữ. Thiết bị này bao gồm đầu in thể di chuyển được, đầu in này sẽ chấm qua một băng mực rồi làm hiện mực lên trang giấy cần in. Nhờ việc tạo tự bằng điểm nên số lượng phông chữ cũng trở nên đa dạng hơn. Tuy vậy, tốc độ in chậm, độ phân giải thấp, không in được hình ảnh độ ồn lớn nên chiếc máy in này nhanh chóng trở nên lạc hậu, ngày nay chỉ còn sử dụng để in hóa đơn tại các cửa hàng, siêu thị.
Năm 1980: Ý tưởng đầu tiên về in 3D xuất hiện. Phương pháp sản xuất bằng cách đắp các lớp vật liệu chồng lên nhau được Dr. Kodama phát triển thành công, ông được coi ông tổ của công nghệ SLA.
Năm 1988, để đáp ứng nhu cầu in hình ảnh, công nghệ in phun nhanh chóng ra đời. Công nghệ này hoạt động bằng cách bắn giọt mực lên giấy. Cụ thể, mực in phun qua các lỗ nhỏ theo từng giọt với tốc độ nhanh, nhờ kích thước giọt mực nhỏ, khả năng pha trộn màu đa dạng, mật độ in dày, độ phân giải thể lên đến hàng nghìn dpi (nghĩa hàng nghìn giọt mực trên 1 inch giấy) giúp tạo ra được những hình ảnh sắc nét, màu sắc rực rỡ theo ý muốn của người dùng.
Từ năm 2010 đến nay, in 3D trở thành trụ cột trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, với hy vọng tạo dựng nên những thiết bị điện tử phức tạp thể hoạt động trong thực tiễn - đây sẽ bước tiến lớn trong tiến trình phát triển của nhân loại.
 
Nhờ sự xuất hiện của máy in, ngành công nghiệp báo chí mới sự phát triển vượt bậc, bên cạnh đó, còn trở thành thiết bị không thể thiếu trong các văn phòng, doanh nghiệp... giúp công việc diễn ra nhanh chóng, đạt năng suất cao cho người sử dụng. Nhờ tính ứng dụng ý nghĩa to lớn trong tiến trình lịch sử, máy in được đánh giá 1 trong 10 phát minh góp phần thay đổi cả thế giới.

saving score / loading statistics ...