eng
competition

Text Practice Mode

I.KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CẮCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1975

created Aug 30th 2021, 06:22 by ThuDng1


3


Rating

2069 words
5 completed
00:00
1.Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, hội, văn hóa
Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1954 đến năm 1975 nền văn học của chế độ mới, vận động phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đường lối văn nghệ của Đảng một trong những nhân tố quan trọng tạo nên một nền văn học thống nhất về khuynh hướng tưởng, thống nhất về tổ chức về quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn - chiến sĩ.
Từ năm 1945 đến năm 1975, trên đất nước ta diễn ra nhiều sự kiện lớn lao: cuộc chiến trành giải phóng dân tộc cùng ác liệt kéo dài suốt ba mươi năm, công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới miền Bắc,... Những sự kiện đó đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc, trong đó văn học nghệ thuật. Điều kiện giao lưu văn hóa với nước ngoài không thuận lợi, chỉ giới hạn trong một số nước. Trong hoàn cành ấy, văn học giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 vẫn phát triển đạt được những thành tựu to lớn.
 
2. Quá trình phát triển những thành tự chủ yếu  
a) Chặng đường từ năm 1945 đến năm 1954
Chủ đề bao trùm sáng tác văn học trong những ngày đầu đất nước giành được độc lập ca ngợi Tổ quốc quần chúng cách mạng, kêu gọi tinh thần đoàn kết toàn dân, cổ phong trào Nam tiến, biểu dương những tấm gương ngước quên mình. HÌnh ảnh cả dân tộc đang trỗi dậy, niềm tự hào đến mức say trước "cuộc tái sinh màu nhiệm" (Hoài Thanh) của dân tộc biểu hiện trong nhiều tác phẩm: Dân khí miền Trung của Hoài Thanh, Huế tháng Tám, Vui bất tuyệt của Tố Hữu, Ngọn quốc kì, Hội nghị non sông của Xuân Diệu, Tình sông núi của Trần Mai Ninh,...
 
Từ cuối năm 1946, văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đến vối cách mạng kháng chiến, nhiều văn nghệ đã thể hiện lòng yêu nước tinh thần dân tộc. Nhưng những ngày đầu, học chưa thể "rung đọng được cái rung động của quần chúng" (Nguyễn Đình Thi). Chính đường lối văn nghệ của Đảng với những chủ trương đúng đắn như "văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa", "cách mạng hóa tửng, quần chúng hóa sinh hoạt", đưa văn nghệ thâm nhập đời sống thực tế,... đã góp phần khơi nguồn cảm hứng sáng tạo của nhà văn tạo nên những thành tựu đặc sắc của văn nghệ kháng chiến.
 
Văn học gắn sâu sắc với đời sống cách mạng kháng chiến; hướng tới đại chúng, phản ánh sức mạnh của quần chúng nhân dân; thể hiện niềm tự hào dân tộc niềm tin vào tương lai tất thắng của cuộc kháng chiến.
 
Truyện ngắn nhũng thể loại mở đầu cho văn xuôi kháng chiến chống thực dân Pháp. sự Một lần tớ Thủ đô, Trận phố Ràng của Trần Đăng, truyện ngắn Đôi mắt nhật rừng của Nam Cao, truyện ngắn Làng của Kim Lân, Thư nhà của Hồ Phương,.. những tác phẩm tiêu biểu.
 
Từ năm 1950, đã bắt đầu xuất hiện những tập truyện, khá dày dặn. Đáng chú ý các tác phẩm được tặng giải thưởng truyện - của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1951 - 1952 : Vùng mỏ của Huy Tâm, Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng các tác phẩm được tặng giải Nhất trong giải thưởng truyện - năm 1954 - 1955 : Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Truyện Tây Bắc của Hoài.  
  
Thơ những năm kháng chiến chống Pháp đạt được nhiều thành tựu xuất sắc. Tình yêu quê hương, đất nước, lòng căm thù giặc, ca ngợi cuộc kháng chiến con người kháng chiến những cảm hứng chính. Hình ảnh quê hương những con người khánh chiến, từ anh vệ quốc quân, mẹ chiến sĩ, chị phụ nữ nông thôn đến em liên lạc, được thể hiện chân thực gợi cảm. Một số nhà thơ ý thức đổi mới thơ ca với những xu hướng khác nhau. Tố Hữu được xem cờ đầu của nền thơ, đại diện cho xu hướng đại chúng hóa, hướng về dân tộc, khai thác những thể thơ truyền thống. Bên cạnh đó, Nguyễn Đình Thi tiêu biểu cho hướng tìm tòi, cách tân thơ ca, đưa ra một kiểu thơ hướng nội, tự do, không vần hoặc rất ít vần. Còn thơ Quang Dũng lại tiêu biểu cho thơ hướng nội, tự do, không vần hoặc rất ít vần. Còn thơ Quang Dũng lại tiêu biểu cho hướng khai thác cảm hứng lãng mạn anh hùng. Những tác phẩm thơ xuất sắc của thơ kháng chiến Cảnh khuya, Rằm tháng giêng (Nguyên tiêu) của Hồ Chí Minh, Đèo Cả của Hữu Loan, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của Quang Dũng, Nhớ của Hồng Nguyên, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, bao giờ trở lại của Hoàng Trung Thông, Đồng chí của Chính Hữu đặc biệt tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu,...  
 
Một số vở kịch ra đời phản ánh hiện thực cách mạng kháng chiến. Bắc Sơn, Những người lại của Nguyễn Huy Tưởng, Chị Hòa của Học Phi những vở được chú ý trong chặng đường này.   
  
luận, nghiên cứu, phê bình văn học từ năm 1945 đến năm 1954 chưa phát triển nhưng đã một số sự kiện tác phẩm ý nghĩa quan trọng. Bản báo cáo Chủ nghĩa Mác vấn đề văn hóa Việt Nam ( 1948) của Trường Chinh, Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (1949) ý nghĩa định hướng cho văn học nghệ thuật. Bài tiểu luận Nhận đường tập Mấy vấn đề nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi, tập phê bình, tiểu luận Nói chuyện thơ ca kháng chiến Quyền sống con người trong "Truyện Kiều" của Hoài Thanh, Giảng văn "Chinh phụ ngâm" của Đặng Thai Mai,... những tác phẩm tiêu biểu.  
 
b) Chặng đường từ năm 1955 đến năm 1964  
Đây chặng đường văn học trong những năm xây dựng chủ nghĩa hội miền bắc đấu tranh thống nhất đất nước. Văn học tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ngợi ca những đổi thay của đất nước con người trong bước đầu xây dựng hội với cảm hứng lãng mạn, tràn đầy niềm vui niềm lạc quan tin tưởng. Nhiều tác phẩm văn học đã thể hiện tình cảm sâu nặng với miền Nam ruột thịt, nói lên nỗi đau chia cắt thể hiện ý chí thống nhất đất nước.   
 
Văn xuôi mở rộng đề tài, bao quát được khá nhiều vấn đề phạm vi của hiện thực đời sống. Nhiều tác phẩm viết về sự đổi đồi của con người, miêu tả sự biến đỏi số phận tính cách nhân vật trong môi trường hội mới. Không ít tác phẩm đi theo hướng này đã thể hiện được khát vọng hạnh phúc của con người, ý nghĩa nhân văn khá sâu sắc như Đi bước nữa của Nguyễn Thế Phương, Màu lạc của Nguyễn Khải, Anh Keng của Nguyễn Kiên,... Một số tác phẩm tập trung thai thác đề tài kháng chiến chống Pháp, không chỉ ngợi ca chủ nghĩa anh hùng, tinh thần bất khuất còn phản ánh được phần nào những hi sing gian khổ, những tổn thất số phận con người trong chiến tranh như tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, Trước giờ nổ súng của Khâm,...   
 
Ngoài ra còn những truyện ngắn, tiểu thuyết về hiện thực đời sống trước Cách mạng với cái nhìn, khả năng phân tích sức khái quát mới : Vợ nhặt của Kim Lân, Tranh tối tranh sáng của Nguyễn Công Hoan, Mười năm của Hoài, Phất của Bùi Huy Phồn. Những bôn tiểu thuyết : Vỡ bờ (hai tập) của Nguyễn Đình Thi, Cửa biển (bốn tập) của Nguyên hồng đã dựng lên được khá bức tranh hoành tráng của lịch sử cách mạng Việt Nam, phản ánh hiện tượng đau thương anh dũng của dân tộc thời Mặt trận Dân chủ đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.
 
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều câu bút, Nhiều chuyến đi thực tế được tổ chức tạo điều kiện cho các nhà văn thâm nhập cuộc sống mới. Sông Đà của Nguyễn Tuân, Bốn năm sau của Nguyễn Huy Tưởng, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Cái sân gạch của Đào Vũ,... bước đầu khẳng định thành tựu của văn xuôi viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa hội trên miền Bắc. Tuy nhiên, chặng đường này, vẫn còn nhiều tác phẩm thể hiện con người cuộc sống một cách đơn giản, phẩm chất nghệ thuật còn non yêu.  
 
Thơ từ năm 1955 đến năm 1964 phát triển mạnh mẽ. Sự hồi sinh của đất nước sau những năm tháng kháng chiến chống Pháp đầy hy sinh gian khổ, thành tựu sau những năm tháng kháng chiến chống Pháp đầy hi sinh gian khổ, thành tựu bước đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa hội, sự hòa hợp giữa cái riêng với cái chung, nỗi đau chia cắt hai miền Nam - Bắc,... những nguồn cảm hứng lớn của thơ ca. Nhiều tác phẩm thơ xuất sắc đã kết hợp hài hòa yếu tố hiện thực yếu tố lãng mạn cách mạng. Thơ ca đã một mùa gặt bội thu với các tập Gió lộng của Tố Hữu, Ánh sáng phù sa của Chế Lan Viên, Riêng chung của Xuân Diệu, Đất nở hoa , Bài thơ cuộc dời của Huy Cận, Gửi miền Bắc, Tiếng sóng của Tế Hanh, Bài thơ Hắc Hải của Nguyễn Đình Thi, Những cánh buồm của Hoàng Trung Thông,.. Nỗi đau chia cắt đất nước, Nỗi nhớ quê hương khát vọng giải phóng miền Nam nguồn cảm hứng của của nhiều bài thơ đặc sắc của Tố Hữu, Tế Hanh, Nguyễn Bính. Ngay trên tuyến đầu chống Mĩ, đã sớm xuất hiện những bài thơ hay, xúc động về miền Nam yêu thương anh dũng như Mồ anh hoa nở của Thanh Hải Quê hương của Giang Nam.
 
Kịch nói cũng một số tác phẩm được luận chú ý như Một đảng viên của Học phi, Ngọn lửa của Nguyên Vũ, Quẫn của Lộng Chương, Chị Nhàn Nổi gió của Đào Hồng Cẩm,...
 
 

saving score / loading statistics ...